Tuesday, May 15, 2012

Mau rung tuon chay o La Nga

"Máu" rừng tuôn chảy ở La Ngà Hiện, căn hầm rộng 40m2 đã được bảo tồn nguyên trạng. Metropole còn bố trí khu trưng bày 110 năm lịch sử của khách sạn dọc theo 18 m hành lang, bao gồm 13 bảng ghi lại hình ảnh phục hồi của khách sạn từ những ngày đầu mở cửa, hơn 300 vị khách nổi tiếng từng nghỉ tại khách sạn, như: vua hề Charlie Chaplin, diễn viên Jane Fonda, ca sĩ Joan Baez hay diễn viên Angelina Jolie... Mâu thuẫn chính trong quản lý, sử dụng đất rừng giữa người dân địa phương và các lâm trường quốc doanh (LTQD) chính là xuất phát từ áp lực người dân thiếu đất sản xuất. Đây là một trong những nội dung quan trọng được nhận diện và chỉ ra tại Hội thảo "Thực trạng và giải pháp về quản lý, sử dụng đất rừng giữa lâm trường quốc doanh và người dân địa phương" diễn ra ngày 15/5 tại Hà Nội.

'Mau' rung tuon chay o La Nga

Rừng bị "rút ruột"

Từ quốc lộ 20 (xã Ngọc Định, huyện Định Quán, Đồng Nai), đi khoảng 1 km là đến cầu Năng Cô - ranh giới của Vinafor La Ngà. Dọc hai bên đường, nhiều khu vực rừng tếch (rừng giá tỵ, thuộc nhóm một) hàng chục năm tuổi, đường kính cây từ 30 đến 35 cm đang bị tàn phá nghiêm trọng, gần như là bị "triệt hạ trắng" để trồng các cây điều, xoài... Đáng nói, những diện tích bị tàn phá này lại cách trụ sở Vinafor La Ngà không xa, có nơi chỉ vài trăm mét. Anh xe ôm khoảng 40 tuổi đang chở chúng tôi đi chỉ tay vào những vườn điều nằm trên đồi nói, trước đây những đồi này là rừng tếch, nhưng giờ bị tàn phá để trồng điều. Dọc hai bên đường nhìn thì còn thấy rừng, nhưng đi sâu vào bên trong thì bị tàn phá nhiều hơn, rừng ở đây bị xơ xác hết rồi.

Đi khoảng bốn km nữa là đến bến phà La Ngà, bên kia sông là địa bàn xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, nơi chiếm phần lớn diện tích rừng dưới sự quản lý của Vinafor La Ngà. Rừng nơi đây cũng bị phá nặng nề. Tiếp chúng tôi trong một căn nhà cấp bốn, ông Trần Sỹ Lục, trước đây là cán bộ kỹ thuật phụ trách trồng rừng thuộc Lâm trường 4, nay là Bí thư Chi bộ ấp 1, xã Thanh Sơn (huyện Định Quán) ngao ngán nói: "Rừng bây giờ xác xơ hết rồi, các anh cần đi đâu xa, chỉ lên đây vài trăm mét sẽ thấy những cánh rừng tếch tan nát như thế nào".

Được sự hướng dẫn của một người dân ở xã Thanh Sơn (huyện Định Quán), chúng tôi tiếp cận được khu rừng tếch (đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước) mới bị phá trắng rộng khoảng hai ha. Đáng nói, diện tích rừng tếch bị phá này chỉ cách UBND xã Thanh Sơn (huyện Định Quán) không xa. Sau khi khai thác cây tếch, họ đã trồng xoài, mít và lấy kẽm gai vây lại làm đất canh tác của riêng mình. Trong khu đất này vẫn còn lại vài chục cây tếch có đường kính rộng hơn 30 cm, trong đó có hai cây tếch bị băm gốc đổ thuốc diệt cỏ vào và đang bị chết dần. Sau khi cây tếch chết, họ tận thu cả gốc lẫn ngọn bán với giá từ 7 đến 10 triệu đồng/m3.

Từ bến phà La Ngà đi gần 40 km nữa là đến khu rừng tự nhiên rộng 10.240 ha. Con đường đất đỏ quanh co cập theo sông La Ngà giờ đây là những vườn điều, vườn quýt... đang thu hoạch quả cũng có, mới vừa trồng cũng nhiều. Trước đây, dọc theo hai bên đường đất đỏ là rừng tếch xanh tươi nhưng giờ đây cũng bị phá đi để trồng các loại cây ăn trái khác. Khu rừng tự nhiên cũng bị lâm tặc phá "tan hoang". Tại xã Thanh Sơn này có khoảng 10 cơ sở mộc mà chủ yếu làm từ gỗ tếch. Các cơ sở này mua gỗ tếch trên địa bàn đóng bàn sa-lông với giá bán 45 triệu đồng một bộ; giường bảy triệu đồng một cái...

Ai phá rừng?

Ông Chu Văn Hòa, nguyên Bí thư xã Thanh Sơn (huyện Định Quán) bức xúc cho rằng, điều đáng buồn là rừng ở đây bị phá rất nhiều. Mặc dù rừng tếch được đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước nhưng rất nhiều diện tích rừng tếch được hợp thức hóa việc phá rừng bằng cách giao cho người dân theo hình thức "dân tự trồng tự hưởng". Sau khi được hợp thức hóa, họ khai thác gỗ tếch đem bán với lập luận là cây tếch do các hộ này tự trồng mà có. Trong khi đó, những diện tích rừng tếch này được Nhà nước đầu tư trồng từ những năm 80 của thế kỷ trước.

Cụ thể, trong 1.176 ha đất rừng sản xuất dự kiến bàn giao cho địa phương quản lý có nhiều diện tích được hợp thức hóa bằng cách này. Ngoài ra, lợi dụng chủ trương khai thác lồ ô, mum, le trong khu rừng tự nhiên, vào năm 2011, tại năm tiểu khu gồm tiểu khu 10; 11; 12; 15; 18 thuộc địa phận quản lý của Lâm trường 2, hàng trăm ha lồ ô, mum, le bị chặt phá ngoài khu vực được phép khai thác mà Vinafor cho phép Vinafor La Ngà khai thác. Bên cạnh đó, trong thời gian từ năm 1995 đến 2011, Vinafor La Ngà ký 109 hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp cho tư nhân 196 ha nằm trong diện tích rừng sản xuất (rừng tếch) tại Lâm trường 3, 4 trái quy định. Diện tích này Vinafor La Ngà thanh lý rừng sản xuất theo quy định để trình lên cấp thẩm quyền phê duyệt trước khi ký hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp làm vườn rừng cho các hộ dân. Trong đó, đã có hơn 103 ha rừng tếch bị xâm hại nghiêm trọng để các hộ dân này trồng xoài, điều, quýt.

Không chỉ rừng tếch, rừng tự nhiên bị phá, mà ngay cả rừng trồng từ chủ trương trồng rừng kết hợp với sản xuất nông nghiệp cũng bị các hộ dân triệt hạ. Theo quy định, mỗi ha đất trồng rừng kết hợp với sản xuất nông nghiệp trồng 200 cây rừng, chủ yếu là cây cẩm lai, gõ đỏ, dầu, sao... Nhưng thực tế, các hộ dân chặt cây rừng để lấy đất sản xuất với lý do cây lớn che hết đất sản xuất nông nghiệp sẽ dẫn đến đói nghèo. Hiện hầu như toàn bộ diện tích đất trồng rừng kết hợp với sản xuất nông nghiệp bị buông lỏng, dẫn đến rừng trồng bị xâm hại nặng nề. Theo các hộ dân nơi đây, mỗi ha còn nhiều nhất khoảng 100 cây, thậm chí chỉ còn hơn 10 cây rừng trồng, gây lãng phí rất lớn cho ngân sách nhà nước.

Trước sự việc rừng bị xâm hại, tàn phá nghiêm trọng như vậy, nhưng ông Nguyễn Thành Công, Giám đốc Công ty Vinafor La Ngà chỉ nói rằng, hiện công ty đang cho kiểm tra lại để đánh giá toàn bộ hiện trạng rừng bị xâm hại như thế nào. Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, ông Lê Việt Dũng cho biết, Chi cục đang tổ chức đoàn kiểm tra nắm bắt tình hình để báo cáo lên cấp trên xử lý.


Metropole Ha Noi se mo cua can ham tru an


-

Hội thảo do Viện tư vấn phát triển (CODE), Trung tâm tư vấn quản lý bền vững tài nguyên và phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á, Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung (Đại học Nông lâm Huế) và Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh (tỉnh Quảng Bình) tổ chức.

Thiếu đất sản xuất nên... lấy rừng


Theo thông tin tại Hội thảo, tình trạng người dân lấn chiếm đất đai của LTQD diễn ra ngày càng nhiều và kéo dài. Tại Lạng Sơn, riêng tại huyện Hữu Lũng, diện tích đất các hộ dân xâm lấn của các tổ chức quản lý rừng trên địa bàn của năm 2008 là 124 ha còn 6 tháng đầu năm 2011 người dân lấn chiếm 60 ha.


Tại xã Trường Sơn và Trường Xuân (huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình), nơi có chủ yếu là đồng bào dân tộc Vân Kiều sinh sống, theo ông Phạm Mậu Tài, Giám đốc Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo của huyện Quảng Ninh (RDPR), diện tích đất nông nghiệp quá ít, trong khi người dân có nhu cầu mở rộng diện tích đất trồng cây lâm nghiệp. Hiện nay, tại địa phương có trên 94% diện tích đất lâm nghiệp là do lâm trường và ban quản lý rừng phòng hộ quản lý (Lâm trường Trường Sơn, Lâm trường Khe Giữa, Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại, Ban quản lý rừng phòng hộ Ba Rền), phần ít ỏi còn lại được giao cho địa phương và các hộ gia đình sử dụng, quản lý.

Tính ra, mỗi người dân chỉ được nhận khoảng 0,3 ha. Tại xã Trường Xuân, chỉ 20% diện tích (khoảng 200 ha) được chương trình 135 và dự án Phân cấp giảm nghèo hỗ trợ giống để người dân trồng rừng. Riêng ở bản Khe Cát (xã Trường Sơn), nơi 70% hộ là người dân tộc Vân Kiều sinh sống, mỗi hộ có trung bình 1,5 sào chủ yếu trồng lạc, đậu, sắn nhưng thu nhập thấp. Đất trồng rừng các hộ được giao từ năm 2007, nhiều hộ được giao khoảng 1-2 ha nhưng đến nay vẫn bỏ hoang vì đất được giao quá xa khu dân cư, khó khăn trong trồng và bảo vệ rừng. Hiện tại, bản có 3 ha rừng keo trồng gần đường Hồ Chí Minh từ năm 2005 do lâm trường thuê 17 hộ dân trồng nhưng hợp đồng không rõ ràng, đến khi chuyển đổi thì số diện tích đó thuộc đất của lâm trường, dẫn đến hiện nay vẫn còn tranh chấp giữa hai bên và số keo này chưa thu hoạch được.


Chuyện tương tự cũng xảy ra tại xã Tam Đình (huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An). Theo bà Nguyễn Thị Hương Giang - cán bộ nghiên cứu của Đại học Vinh cho biết toàn bộ đất rừng thuộc quyền quản lý của lâm trường Tương Dương nhưng ranh giới của đất lâm trường không rõ ràng. Mặt khác, do thiếu nguồn lực, một số diện tích đất trống chưa được sử dụng.


Việc ranh giới phân định không rõ ràng, người dân lại thiếu đất sản xuất nên một số hộ gia đình đã tự xâm lấn phần đất này của lâm trường để trồng cây ăn quả hoặc cây công nghiệp. Thực tế, xã có 100% số hộ dân sống phụ thuộc vào rừng nhưng số hộ được giao đất, giao rừng chỉ 13 hộ và trong số đó chỉ có 2 hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.


Thực tế cho thấy, việc chiếm dụng đất của người dân để sản xuất theo hình thức này dẫn đến mâu thuẫn giữa lâm trường và người dân. Người dân cũng gặp phải một thách thức là quyền được bảo vệ và hưởng dụng sản phẩm không an toàn. Một người dân ở bản Phúc Yên (xã Tam Đình) cho biết: "Nhà em ở độ dốc cao nên đất ở rất ít, em cần đất để trồng cây nhưng ở đâu cũng là đất của lâm trường. Có một vài chỗ do cháy rừng, lâm trường chưa trồng lại, để trống mấy năm nay, em trồng cây xoan vào đó. Nhưng họ nói nếu giữa chừng họ có kế hoạch trồng rừng vào diện tích đó thì họ sẽ phá rừng xoan của em".

"Tư hữu" và hiệu quả


Nghiên cứu của bà Nguyễn Thị Hương Giang cũng cho thấy diện tích đất lâm nghiệp do các hộ gia đình do xâm lấn được quản lý khá hiệu quả vì người dân ý thức được đó là tài sản của họ. Tuy nhiên, hình thức quản lý này cũng gặp nhiều thách thức như thiếu vốn, thiếu kỹ thuật…


Xuất phát từ thực tế xã Tam Đình, theo bà Nguyễn Thị Hương Giang, một trong những giải pháp ưu tiên để góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng cho huyện Tương Dương chính là thu hồi một phần rừng tự nhiên từ lâm trường để giao lại cho nhóm hộ. Vì, nghiên cứu của bà Nguyễn Thị Hương Giang cũng cho thấy các hộ gia đình quản lý khá hiệu quả diện tích đất lâm nghiệp do họ xâm lấn vì người dân ý thức được đó là tài sản cá nhân. Nhưng, "nhà nước và các tổ chức cần hỗ trợ các giải pháp kỹ thuật về khoanh nuôi tái sinh, phòng chống cháy rừng kết hợp với các kinh nghiệm địa phương cho người dân. Đồng thời, quyền lợi, nghĩa vụ của người nhận rừng cũng cần được thảo luận chi tiết, rõ ràng giữa các bên trên cơ sở văn bản pháp quy của Nhà nước, có tính đến đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương", bà Giang đề xuất.


Theo khảo sát của Quỹ RDPR, qua phỏng vấn tìm hiểu nhu cầu cộng đồng tại 2 bản có 89,4% ý kiến có nhu cầu muốn được nhận khoán trồng rừng. Tại bản Khe Cát (xã Trường Sơn- huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình), với những tranh chấp hiện có, người dân bản đề xuất thu hồi diện tích đất 150 ha của Lâm trường Trường Sơn để giao lại cho người dân trồng rừng.


Giải quyết mâu thuẫn này, theo nhiều chuyên gia, cần phải hài hòa lợi ích của cả lâm trường và người dân địa phương, theo hướng đồng sở hữu. Viện Tư vấn phát triển đề xuất cần tổ chức rà soát đất đai của LTQD trên cơ sở nhu cầu sử dụng đất rừng tối thiểu của người dân và cộng đồng địa phương. Tiếp đó, từ quỹ đất đã rà soát, chuẩn bị phương án giao đất giao rừng cho cộng đồng dân cư địa phương và cho các tổ chức, theo hướng giao đất giao rừng cho người dân trước, sau đó mới triển khai cho thuê/giao đất cho các tổ chức sau.


Mạnh Minh


No comments:

Post a Comment